Người Việt quen hình dung nghiên cứu khoa học gắn với trường đại học: giảng viên vừa dạy vừa làm đề tài, phòng thí nghiệm nằm trong khoa. Ở châu Âu, mô hình đó đúng với nhiều nước, nhưng ở Đức và Pháp, một phần rất lớn nghiên cứu diễn ra trong các mạng lưới viện nằm ngoài đại học, mỗi mạng lưới được giao một vai trò riêng. Hiểu cách họ chia việc giúp ta đọc đúng tin tức khoa học châu Âu, và giúp người muốn sang đó làm nghiên cứu biết nên gõ cửa ở đâu.
Đức: bốn hội nghiên cứu, bốn vai trò
Bên cạnh hệ thống đại học, Đức có bốn tổ chức nghiên cứu lớn, mỗi tổ chức là một mạng lưới nhiều viện rải khắp đất nước. Kinh phí nền chủ yếu do nhà nước liên bang và các bang cùng đóng góp.
| Tổ chức | Vai trò chính | Cách chọn hướng nghiên cứu |
|---|---|---|
| Hội Max Planck | Nghiên cứu cơ bản ở mũi nhọn | Chọn nhà khoa học hàng đầu làm giám đốc, để họ tự định hướng |
| Hội Fraunhofer | Nghiên cứu ứng dụng cho doanh nghiệp và khu vực công | Theo nhu cầu của khách hàng và chương trình công nghệ |
| Hiệp hội Helmholtz | Các trung tâm lớn, vận hành hạ tầng như máy gia tốc, tàu nghiên cứu, siêu máy tính | Theo các chương trình dài hạn được đánh giá định kỳ |
| Hiệp hội Leibniz | Rất đa dạng: từ kinh tế, giáo dục đến các bảo tàng nghiên cứu | Mỗi viện có sứ mệnh riêng, được đánh giá định kỳ |
Cái hay của cách chia này là mỗi tổ chức không phải giỏi mọi thứ. Một viện Max Planck không bị đánh giá theo số hợp đồng với doanh nghiệp; một viện Fraunhofer không bị đánh giá chủ yếu theo số bài trên tạp chí hàng đầu. Tiêu chí khác nhau vì nhiệm vụ khác nhau.
Max Planck: chọn người, không chọn đề tài
Hội Max Planck có hơn tám mươi viện, phần lớn ở Đức, trải từ thiên văn, vật lý, hoá học đến luật, lịch sử nghệ thuật, nhân khẩu học. Nguyên tắc nổi tiếng của họ là tìm những nhà khoa học xuất sắc nhất thế giới trong một lĩnh vực, mời làm giám đốc, cho họ kinh phí ổn định và không bắt nộp đề cương từng dự án. Khi giám đốc nghỉ hưu, viện có thể đổi hẳn hướng theo người kế nhiệm, thậm chí đóng một bộ phận để mở hướng mới.
Đi kèm là cơ chế dành cho người trẻ: các nhóm nghiên cứu độc lập do nhà khoa học mới vài năm sau tiến sĩ dẫn dắt, có ngân sách riêng trong một thời hạn. Với nghiên cứu sinh, nhiều viện lập trường sau đại học chung với các đại học gần đó; bằng tiến sĩ vẫn do trường đại học cấp, vì viện không có quyền cấp bằng.
Điểm yếu thường được nêu: viện tách khỏi giảng dạy, nên sinh viên đại học ít được tiếp xúc với những người giỏi nhất, và đại học phải cạnh tranh nhân tài với chính các viện này.
Fraunhofer: viện sống bằng hợp đồng
Fraunhofer là tổ chức nghiên cứu ứng dụng lớn nhất châu Âu. Định dạng nén âm thanh MP3 được phát triển phần lớn tại một viện Fraunhofer — ví dụ hay được nhắc tới nhất về nghiên cứu ứng dụng ra thành sản phẩm toàn cầu.
Cơ chế tài chính của Fraunhofer, thường gọi là mô hình Fraunhofer, là điểm đáng học nhất: nhà nước cấp một phần kinh phí nền (theo mô tả của chính tổ chức, khoảng một phần ba), phần còn lại các viện phải tự kiếm từ hợp đồng với doanh nghiệp và dự án công. Viện nào ký được nhiều hợp đồng thì phần kinh phí nền cũng tăng theo. Kết quả là viện có động lực làm thứ doanh nghiệp thật sự cần, nhưng vẫn có tiền nền để giữ đội ngũ và làm nghiên cứu đi trước nhu cầu vài năm.
Rủi ro của mô hình này là viện trôi dần thành công ty tư vấn, chỉ làm việc ngắn hạn theo đơn đặt hàng. Phần kinh phí nền chính là thứ giữ cho viện còn là nơi nghiên cứu.
Helmholtz và Leibniz: hạ tầng lớn và sự đa dạng
Có những loại nghiên cứu không đại học nào tự gánh nổi: máy gia tốc hạt, nguồn bức xạ synchrotron, tàu phá băng nghiên cứu vùng cực, trung tâm ung thư quy mô lớn. Các trung tâm Helmholtz được dựng ra để vận hành những hạ tầng đó, và mở cửa cho các nhà khoa học từ đại học trong và ngoài nước đến dùng theo đơn đăng ký được xét chọn.
Leibniz là mạng lưới khó tóm tắt nhất: có viện kinh tế làm dự báo cho nhà nước, viện giáo dục, viện vi sinh, và cả những bảo tàng lớn vừa trưng bày vừa nghiên cứu. Điểm chung là mỗi viện được đánh giá bởi hội đồng bên ngoài sau một chu kỳ nhiều năm, và viện không đạt có thể mất tư cách thành viên cùng kinh phí đi kèm.
Pháp: CNRS và những đơn vị nghiên cứu chung với đại học
Pháp có cách làm khác. Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS) là tổ chức nghiên cứu công lớn, phủ gần như mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó là các tổ chức chuyên ngành như Inserm cho y sinh, CEA cho năng lượng và công nghệ, INRAE cho nông nghiệp, thực phẩm và môi trường.
Điểm đặc trưng nhất là đơn vị nghiên cứu hỗn hợp: phần lớn phòng thí nghiệm CNRS không đứng riêng mà là đơn vị chung với một hoặc vài trường đại học. Trong cùng một hành lang có nhà nghiên cứu toàn thời gian của CNRS, giảng viên kiêm nghiên cứu của trường, nghiên cứu sinh và kỹ sư. Cách này giảm được điểm yếu tách biệt mà mô hình Đức hay bị phê bình.
Nhà nghiên cứu CNRS được tuyển qua kỳ tuyển chọn cạnh tranh toàn quốc, và khi trúng tuyển là vị trí lâu dài từ khá sớm trong sự nghiệp. Mô hình này cho sự ổn định để theo đuổi hướng dài hơi, đổi lại là ít vị trí, cạnh tranh rất gắt.
Các nước khác: không phải đâu cũng có mạng lưới viện lớn
- Bắc Âu: nghiên cứu cơ bản chủ yếu nằm trong đại học. Ngoài đại học là các viện ứng dụng lớn phục vụ công nghiệp, như VTT ở Phần Lan, RISE ở Thuỵ Điển, SINTEF ở Na Uy.
- Hà Lan: có các viện của hội đồng nghiên cứu quốc gia cho nghiên cứu cơ bản và TNO cho nghiên cứu ứng dụng.
- Tây Ban Nha và Ý: mỗi nước có một hội đồng nghiên cứu quốc gia quản lý mạng lưới viện rộng (CSIC ở Tây Ban Nha, CNR ở Ý), nhiều viện đặt chung khuôn viên với đại học.
Không có mô hình nào thắng tuyệt đối. Thuỵ Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch đều là những nước có thành tích nghiên cứu mạnh mà phần lớn vẫn dựa vào đại học.
Điều có thể học, và điều không nên bê nguyên
Từ cách châu Âu tổ chức, có vài nguyên tắc dùng được ở nhiều nơi:
- Giao vai trò rõ ràng. Viện làm nghiên cứu cơ bản và viện phục vụ doanh nghiệp cần tiêu chí đánh giá khác nhau. Gộp chung một bộ tiêu chí là ép cả hai làm dở.
- Có kinh phí nền ổn định. Nghiên cứu sống hoàn toàn bằng đề tài ngắn hạn thì không giữ được người giỏi và không đi trước được nhu cầu.
- Đánh giá định kỳ bởi người ngoài. Các mạng lưới Đức đều có hội đồng đánh giá có thành viên quốc tế, và kết quả đánh giá ảnh hưởng thật tới kinh phí.
- Gắn viện với đào tạo. Mô hình đơn vị hỗn hợp của Pháp và trường sau đại học chung của Đức là hai cách khác nhau để nghiên cứu sinh được làm việc cạnh người giỏi.
Một lưu ý nhỏ khi đọc tin khoa học: khi báo chí viết các nhà khoa học Đức vừa công bố một phát hiện, nên xem phát hiện đó đến từ loại viện nào. Một kết quả của viện nghiên cứu cơ bản thường còn rất xa ứng dụng; một công bố của viện ứng dụng thường đã có doanh nghiệp đi cùng. Cùng một dòng tít, hai ý nghĩa khác nhau.
Điều không nên bê nguyên là quy mô. Những mạng lưới này được xây trong nhiều thập kỷ, trên một nền tài chính công lớn và ổn định. Chép tên gọi hay sơ đồ tổ chức mà không có hai điều kiện đó thì chỉ được cái vỏ.
Nếu bạn muốn làm việc ở một viện châu Âu
Các viện tuyển nhiều loại vị trí: nghiên cứu sinh, nghiên cứu viên sau tiến sĩ, kỹ sư, kỹ thuật viên, và cả thực tập sinh cho sinh viên thạc sĩ. Vị trí được đăng trên trang tuyển dụng của từng viện và trên cổng việc làm nghiên cứu chung của châu Âu. Ở viện nghiên cứu cơ bản, tiếng Anh thường là ngôn ngữ làm việc. Ở viện ứng dụng làm với doanh nghiệp trong nước, tiếng sở tại là lợi thế lớn, có khi là điều kiện bắt buộc. Trước khi nộp, đọc vài bài báo gần đây của nhóm và viết thư nêu cụ thể bạn sẽ góp gì vào hướng đó — thư chung chung gửi hàng loạt hầu như không được trả lời.
Câu hỏi thường gặp
Max Planck và Fraunhofer khác nhau ở điểm nào chính?
Max Planck làm nghiên cứu cơ bản, chọn nhà khoa học xuất sắc rồi để họ tự chọn hướng. Fraunhofer làm nghiên cứu ứng dụng, phần lớn kinh phí đến từ hợp đồng với doanh nghiệp và dự án công.
Viện nghiên cứu ở châu Âu có tuyển nghiên cứu sinh không?
Có, nhưng bằng tiến sĩ vẫn do trường đại học cấp. Nghiên cứu sinh làm việc ở viện và đăng ký tại một trường đối tác, thường thông qua các trường sau đại học chung giữa viện và đại học.
Làm ở viện nghiên cứu Đức có cần tiếng Đức không?
Ở các viện nghiên cứu cơ bản, tiếng Anh thường là ngôn ngữ làm việc. Ở viện ứng dụng làm việc trực tiếp với doanh nghiệp Đức, tiếng Đức là lợi thế lớn và có vị trí yêu cầu bắt buộc.
Ở Pháp, nhà nghiên cứu CNRS có phải giảng dạy không?
Nhà nghiên cứu CNRS không có nghĩa vụ giảng dạy như giảng viên đại học, dù nhiều người vẫn tham gia hướng dẫn sinh viên trong các đơn vị nghiên cứu chung với trường.
Bắc Âu có mạng lưới viện lớn như Đức không?
Ở Bắc Âu, nghiên cứu cơ bản chủ yếu nằm trong đại học. Viện ngoài đại học chủ yếu là viện ứng dụng phục vụ công nghiệp và nhà nước.